
Lá côn tải là phần ma sát quyết định xe bốc hay trượt khi bạn vào số. Nó mòn đều theo năm tháng, và đến lúc nào đó bạn sẽ phải thay. Chúng tôi viết bài này để bạn biết lá côn tải nằm ở đâu, loại nào hợp xe mình và cách lắp sao cho bền.
Bạn có thể tham khảo thêm khái niệm ly hợp trên Wikipedia để hiểu rõ nền tảng kỹ thuật.
Cách trình bày đi từ vị trí, vật liệu, triệu chứng, rồi tới chọn theo đời xe và lúc lắp. Bạn cứ đọc theo thứ tự, đỡ phải đoán.
Lá côn tải nằm ở đâu trong bộ côn

Lá côn tải còn gọi là lá phíp, bố côn hay đĩa ma sát. Nó nằm bên trong cụm ly hợp của xe số, xen kẽ với các lá sắt. Cả chồng lá được lò xo ép chặt vào chuông côn.
Chữ “tải” ở đây ý nói lá này chịu tải truyền lực. Khi bạn thả tay côn, chính các lá phíp truyền mô-men từ máy xuống hộp số. Mỗi lá có một mặt phủ vật liệu ma sát, bên trong có răng hoặc rãnh khớp với moay-ơ hay chuông côn.
Bạn cần phân biệt lá phíp với lá sắt. Lá sắt trơn, phẳng và cứng. Lá phíp có lớp nhám nâu hoặc xám, hút dầu tốt. Hai loại này luôn đi theo cặp và mòn cùng nhau. Muốn nắm toàn bộ cụm, bạn xem thêm bài bộ ly hợp xe máy để thấy lá côn đứng ở vị trí nào trong cả hệ.
Phíp thường và phíp FCC: vật liệu, độ bền

Trên thị trường có hai nhóm hay gặp, là phíp thường và phíp FCC. Nghe tên dễ tưởng chỉ khác nhãn, nhưng cách làm và cảm giác lái khác khá nhiều.
Phíp thường
Phíp thường làm từ sợi ép với keo kết dính. Giá dễ chịu, bám tốt khi mới lắp, êm tay côn. Nhược điểm là chịu nhiệt vừa phải. Chạy nặng, nhồi côn liên tục thì lớp ma sát bong và mòn nhanh hơn.
Phíp FCC
FCC là tên một hãng chuyên làm ly hợp, và nhiều người gọi tắt các lá phíp chất lượng cao theo tên này. Loại này thường có hỗn hợp vật liệu ổn định hơn, chịu nhiệt tốt, ít bị trơ mặt. Cảm giác nhả côn rõ ràng và đều. Ai hay chở nặng, chạy đường dốc hoặc chạy dịch vụ thường thích loại này.
Đừng nghĩ cứ đắt là hợp. Xe đi chợ, đi làm nhẹ nhàng dùng phíp thường đúng tiêu chuẩn vẫn bền. Điều quan trọng là đúng kích thước, đúng số răng và đúng độ dày.
- Chạy phố nhẹ, ít tải: phíp thường đúng mã là đủ.
- Chở nặng, leo dốc, đi xa: nên cân nhắc phíp có độ bền nhiệt tốt hơn.
- Xe độ máy, tăng công suất: lá côn cần chịu được mô-men lớn hơn, kèm lò xo côn phù hợp.
Dấu hiệu lá côn mòn, cháy

Lá côn xuống cấp thường báo hiệu khá rõ. Nếu bạn để ý, có thể xử lý trước khi xe nằm đường.
Dấu hiệu đầu tiên là trượt côn. Bạn vặn ga, máy gầm to nhưng xe lên tốc độ chậm. Chuyển số cao càng thấy rõ. Dấu thứ hai là mùi khét, hơi như cao su cháy, nhất là sau lúc leo dốc hoặc kẹt xe.
Dấu thứ ba là tay côn bị “ăn” muộn hoặc quá gắt. Xe giật cục khi xuất phát hoặc lúc nào cũng có cảm giác bị kéo. Dấu thứ tư là dầu máy đổi màu sẫm, lẫn bột đen. Đó là bụi ma sát từ lá phíp rơi ra.
Khi mở máy, bạn nhìn vào mặt lá. Lớp nhám còn đều, có rãnh dầu rõ là còn dùng được. Mặt bóng, đổi màu xanh tím hoặc đen cháy là hỏng. Lá nứt chân răng hoặc sứt mẻ chỗ khớp với chuông côn cũng phải thay. Đo độ dày bằng thước cặp rồi so với số liệu trong sổ tay của đúng đời xe. Dưới mức cho phép thì đổi, đừng cố đi thêm.
Một ca chúng tôi nhớ: chiếc xe số chạy dịch vụ giao hàng, chủ than xe yếu dần suốt hai tháng. Mở ra, ba lá phíp đã cháy xám, lá sắt xanh vì nhiệt. Chủ thay mỗi phíp, vài tuần sau trượt lại vì lá sắt chưa thay. Từ đó chúng tôi luôn kiểm tra cả lá sắt khi mở côn.
Chọn lá côn đúng đời xe Dream, Wave, Jupiter, Exciter

Mỗi dòng xe có số lá, kích thước và kiểu răng khác nhau. Đây là chỗ hay nhầm nhất khi mua. Hãy thận trọng và đối chiếu từng thông số.
Với Dream và Wave, côn là loại nhiều lá ngâm dầu, kích cỡ gần nhau nhưng không phải đời nào cũng dùng chung. Wave đời đầu và đời sau có thể khác ở số lá hoặc độ dày. Jupiter có cụm côn riêng, kiểu răng và đường kính không lẫn với Wave. Exciter là dòng côn tay, chịu lực lớn hơn nên lá côn và lò xo được thiết kế khác hẳn.
Cách an toàn là tháo lá cũ ra rồi đo:
- Đường kính ngoài và đường kính trong của lá.
- Số răng hoặc số rãnh bám vào chuông côn.
- Độ dày từng lá và tổng số lá trong bộ.
- Kiểu khớp: răng ngoài hay răng trong.
Nếu xe bạn là dòng xe ga thì không dùng lá phíp, mà dùng má côn ly tâm. Phần đó khác hoàn toàn, bạn nên đọc bài bộ côn sau xe ga để phân biệt và tránh mua nhầm loại.
Muốn so nhiều nhóm hàng cùng lúc, bạn có thể vào mục phụ tùng xe máy và lọc theo dòng xe. Tránh tin vào mô tả “dùng được cho nhiều xe”. Với côn, chữ “nhiều xe” thường nghĩa là phải cắt, mài hoặc chạy kém ổn định.
Lưu ý khi lắp và chạy rà lá côn mới
Lá côn tốt mà lắp ẩu thì vẫn nhanh hỏng. Bạn nên làm đúng mấy bước sau.
- Ngâm lá phíp mới trong dầu máy sạch khoảng mười lăm phút. Lá khô lắp vào dễ bị cháy trong vài chục cây đầu.
- Lau sạch lá sắt, bỏ hết bavia và vết xước. Lá sắt cong thì thay, đừng lắp lại.
- Lắp đúng thứ tự phíp, sắt xen kẽ, đúng chiều răng như lúc tháo.
- Thay lò xo côn nếu đã ngắn hoặc mỏi. Lò xo yếu làm lá mới trượt ngay.
- Siết các ốc đĩa ép đều tay, theo đường chéo, đủ lực.
- Thay dầu máy mới, đúng loại và đúng lượng.
Sau khi lắp, chỉnh độ rơ tay côn. Quá căng làm côn không ép hết, quá chùng khiến côn không nhả. Chạy rà khoảng một trăm cây số đầu, tránh nhồi côn gắt, tránh vặn ga hết cỡ. Lá mới cần thời gian làm quen với chuông côn.
Cuối cùng, nếu bạn đang gom đồ để làm trọn cụm, mục bộ côn nguyên bộ sẽ giúp bạn chọn đồng bộ lá phíp, lá sắt và lò xo. Thay đồng bộ luôn là cách rẻ nhất về lâu dài, vì bạn đỡ phải mở máy lần hai.